Nối Kết-Links 



 
 
 
This website used Unicode
fonts.Click here to download.
  BỘ GIÁO LUẬT - THE CODE OF CANON LAW

Bộ Giáo Luật
The Code of Canon Law

Bản dịch việt ngữ của:
Ðức Ông Nguyễn Văn Phương, Linh Mục Phan Tấn Thành, Linh Mục Vũ Văn Thiện, Linh Mục Mai Ðức Vinh
Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

(Trích từ Vietnamese Missionaries in Asia)



Lời Nói Ðầu

Tông Hiến Sacrae Disciplinae Leges


Quyển I: Tổng Tắc (1-203)

Thiên 1: Luật Giáo Hội (7-22)

Thiên 2: Tục Lệ (23-28)

Thiên 3: Các Sắc Luật và Huấn Thị (29-34)

Thiên 4: Các Hành Vi Hành Chánh Cá Biệt (35-93)

Thiên 5: Các Quy Chế và Ðiều Lệ (94-95)

Thiên 6: Các Thể Nhân và Pháp Nhân (96-123)

Thiên 7: Các Hành Vi Pháp Lý (124-128)

Thiên 8: Quyền Cai Trị (129-144)

Thiên 9: Các Giáo Vụ (145-196)

Thiên 10: Thời Hiệu (197-199)

Thiên 11: Cách Tính Thời Giờ (200-203)

Quyển II: Dân Chúa (204-746)

    Phần I: Các Tín Hữu (204-329)

Thiên 1: Nghĩa Vụ Và Quyền Lợi Của Các Tín Hữu (208-223)

Thiên 2: Nghĩa Vụ Và Quyền Lợi Của Các Giáo Dân (224-231)

Thiên 3: Các Thừa Tác Viên Có Chức Thánh Hay Là Các Giáo Sĩ (232-293)

Thiên 4: Các Giám Chức Tòng Nhân (294-297)

Thiên 5: Các Hiệp Hội Của Các Tín Hữu (298-329)

    Phần II: Cơ Cấu Phẩm Trật Của Giáo Hội (330-572)

Tiết I: Quyền Tối Cao Của Giáo Hội (330-367)

Tiết II: Các Giáo Hội Ðịa Phương Và Các Hợp Ðoàn Giáo Hội Ðịa Phương (368-572)

Thiên 1: Các Giáo Hội Ðịa Phương Và Quyền Hành Tại Ðó (368-430)

Thiên 2: Các Hợp Ðoàn Các Giáo Hội Ðịa Phương (431-459)

Thiên 3: Tổ Chức Nội Bộ Của Các Giáo Hội Ðịa Phương (460-572)

    Phần III: Các Hội Dòng Tận Hiến Và Các Tu Ðoàn Tông Ðồ (573-746)

Tiết I: Các Hội Dòng Tận Hiến (573-730)

Thiên 1: Các Quy Tắc Chung Cho Tất Cả Các Hội Dòng Tận Hiến (573-606)

Thiên 2: Các Dòng Tu (607-709)

Thiên 3: Các tu Hội Ðời (710-730)

Tiết II: Các Tu Ðoàn Tông Ðồ (731-746)

Quyển III: Nhiệm Vụ Giáo Huấn Của Giáo Hội (747-833)

Thiên 1: Tác Vụ Lời Chúa (756-780)

Thiên 2: Hoạt Ðộng Truyền Giáo Của Giáo Hội (781-792)

Thiên 3: Giáo Dục Công Giáo (793-821)

Thiên 4: Các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội Và Ðặc Biệt Về Sách Báo (822-832)

Thiên 5: Việc Tuyên Xưng Ðức Tin (833)

Quyển IV: Nhiệm Vụ Thánh Hóa Của Giáo Hội (834-1253)

    Phần I: Các Bí Tích (840-1165)

Thiên 1: Bí Tích Rửa Tội (849-878)

Thiên 2: Bí Tích Thêm Sức (879-896)

Thiên 3: Bí Tích Thánh Thể (897-958)

Thiên 4: Bí Tích Thống Hối (959-997)

Thiên 5: Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân (998-1007)

Thiên 6: Bí Tích Truyền Chức (1008-1054)

Thiên 7: Bí Tích Hôn Phối (1055-1165)

    Phần II: Các Việc Phụng Tự Khác (1166-1204)

Thiên 1: Các Á Bí Tích (1166-1172)

Thiên 2: Phụng Vụ Giờ Kinh (1173-1175)

Thiên 3: An Táng (1176-1185)

Thiên 4: Việc Tôn Kính Các Thánh, Ảnh Tượng Và Hài Cốt (1186-1190)

Thiên 5: Lời Khấn Và Lời Thề (1191-1204)

    Phần III: Các Nơi Thánh Và Thời Gian Thánh (1205-1253)

Thiên 1: Nơi Thánh (1205-1243)

Thiên 2: Thời Gian Thánh (1244-1253)

Quyển V: Tài Sản Của Giáo Hội (1254-1310)

Thiên 1: Sự Ðắc Thủ Tài Sản (1259-1272)

Thiên 2: Sự Quản Trị Tài Sản (1273-1289)

Thiên 3: Các Khế Ước, Nhất Là Sự Chuyển Nhượng (1290-1298)

Thiên 4: Thiện Ý Nói Chung Và Thiện Quỹ (1299-1310)

Quyển VI: Chế Tài Trong Giáo Hội (1311-1399)

    Phần I: Tội Phạm Và Hình Phạt Nói Chung (1311-1363)

Thiên 1: Sự Trừng Trị Tội Phạm Nói Chung (1311-1312)

Thiên 2: Hình Luật Và Mệnh Lệnh Hình Sự (1313-1320)

Thiên 3: Chủ Thể Có Thể Thụ Hình (1321-1330)

Thiên 4: Các Hình Phạt Và Các Sự Trừng Trị Khác (1331-1340)

Thiên 5: Việc Áp Dụng Hình Phạt (1341-1353)

Thiên 6: Sự Chấm Dứt Hình Phạt (1354-1363)

    Phần II: Hình Phạt Cho Từng Tội Phạm (1364-1399)

Thiên 1: Những Tội Phạm Nghịch Với Tôn Giáo Và Sự Hợp Nhất Của Giáo Hội (1364-1369)

Thiên 2: Những Tội Phạm Ðến Giáo Quyền Và Sự Tự Do Của Giáo Hội (1370-1377)

Thiên 3: Sự Chiếm Ðoạt Chức Vụ Giáo Hội Và Những Tội Phạm Trong Việc Hành Sử (1378-1389)

Thiên 4: Tội Ngụy Tạo (1390-1391)

Thiên 5: Những Tội Phạm Ðến Các Bổn Phận Ðặc Biệt (1392-1396)

Thiên 6: Những Tội Phạm Ðến Sự Sống Và Tự Do Của Con Người (1397-1398)

Thiên 7: Tổng Tắc (1399)

Quyển VII: Tố Tụng (1400-1752)

    Phần I: Sự Phán Xử Nói Chung (1400-1500)

Thiên 1: Tòa Án Có Thẩm Quyền (1404-1416)

Thiên 2: Các Cấp Bực Và Các Loại Khác Nhau Của Tòa Án (1417-1445)

Thiên 3: Kỷ Luật Phải Giữ Trong Các Tòa Án (1446-1475)

Thiên 4: Các Ðương Sự Trong Vụ Kiện (1476-1490)

Thiên 5: Tố Quyền Và Khước Biện (1491-1500)

    Phần II: Tố Tụng Hộ Sự (1501-1670)

Tiết I: Tố Tụng Hộ Sự Thông Thường (1501-1655)

Thiên 1: Việc Khởi Tố (1501-1512)

Thiên 2: Sự Ðối Tụng (1513-1516)

Thiên 3: Sự Tiến Hành Vụ Kiện (1517-1525)

Thiên 4: Bằng Chứng (1526-1586)

Thiên 5: Những Vụ Kiện Phụ Ðới (1587-1597)

Thiên 6: Sự Công Bố Án Từ, Sự Kết Thúc Thẩm Cứu Và Sự Tranh Luận (1598-1606)

Thiên 7: Sự Tuyên Án (1607-1618)

Thiên 8: Sự Kháng Nghị Án Văn (1619-1640)

Thiên 9: Vấn Ðề Quyết Tụng Và Sự Phục Hồi Nguyên Trạng (1641-1648)

Thiên 10: Án Phí Và Bảo Trợ Tư Pháp Miễn Phí (1649)

Thiên 11: Sự Chấp Hành Án Văn (1650-1655)

Tiết II: Tố Tụng Hộ Sự Khẩu Biện (1656-1670)

    Phần III: Vài Tố Tụng Ðặc Biệt (1671-1716)

Thiên 1: Tố Tụng Hôn Nhân (1671-1707)

Thiên 2: Vụ Tuyên Bố Sự Truyền Chức Vô Hiệu (1708-1712)

Thiên 3: Những Cách Thức Tránh Kiện Tụng (1713-1716)

    Phần IV: Tố Tụng Hình Sự (1717-1731)

    Phần V: Thủ Tục Việc Thượng Cầu Hành Chánh Và Việc Bãi Chức Hay Thuyên Chuyển (1732-1752)

Tiết I: Thượng Càu Kháng Lại Một Nghị Ðịnh Hành Chánh (1732-1739)

Tiết II: Thủ Tục Bãi Chức Hay Thuyên Chuyển Các Cha Sở (1740-1752)

(Nguyên bản La Ngữ được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 25-1-1983. Phép ấn hành bản Việt Ngữ do Ðức Cha John J. Leibrecht, Giám Mục Giáo Phận Springfield - Cape Girardeau, Springfield 1/7/1986)

Tự Sắc của Ðức Giáo Hoàng Phanxicô Chúa Giêsu Thẩm Phán Nhân Từ Mitis Iudex Dominus Iesus (Thay thế các điều luật 1671-1691)

Những Vụ Án Tuyên Bố Hôn Nhân Bất Thành (1671-1691)

Những Nguyên Tắc Hướng Dẫn về thủ tục tiến hành các vụ án tuyên bố hôn nhân bất thành

TÔNG HIẾN "SACRAE DISCIPLINAE LEGES"

Mến gửi các chư huynh đáng kính, Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và tất cả các thành phần khác của Dân Chúa.

Gioan Phaolô, Giám Mục
Tôi tớ của các Tôi tớ Chúa, để muôn đời ghi nhớ.

Qua giòng thời gian, Giáo Hội Công Giáo vẫn thường cải tổ và canh tân các luật lệ kỷ luật thánh, ngõ hầu, tuy vẫn luôn luôn trung thành với Ðấng sáng lập, chúng được thích ứng với sứ mạng cứu rỗi đã được trao cho Giáo Hội. Trong chiều hướng ấy và để đáp lại nguyện vọng của toàn thể thế giới công giáo, hôm nay ngày 25 tháng giêng năm 1983, Chúng Tôi ra lệnh ban hành Bộ Giáo Luật đã được tu chính. Trong khi quyết định như vậy, tâm trí chúng tôi liên tưởng đến cũng ngày này vào năm 1959, vị tiền nhiệm của Chúng Tôi, Ðức Gioan XXIII, đã loan báo công khai lần đầu tiên việc cải tổ Bộ Giáo Luật hiện hành đã được ban hành dịp lễ Hiện Xuống năm 1917.

Quyết định canh tân Bộ Giáo Luật đã được Ðức Gioan XXIII tuyên bố cùng một lúc với hai quyết định khác, đó là việc triệu tập Công Nghị giáo phận Rôma và triệu tập Công Ðồng hoàn vũ. Trong hai biến cố ấy, tuy biến cố thứ nhất không liên can mật thiết với việc cải tổ giáo luật, nhưng đối lại, biến cố thứ hai, tức là Công Ðồng, có ảnh hưởng rất quan trọng đến vấn đề của chúng ta, và liên kết mật thiết đến bản tính của nó.

Và nếu có ai đặt câu hỏi vì sao Ðức Gioan XXIII cảm thấy cần phải cải tổ Bộ Luật hiện hành, thì câu giải đáp có thẻ được tìm thấy ngay trong chính bộ luật ấy, đã được ban hành vào năm 1917. Tuy nhiên, còn có một trả lời khác có tính cách quyết liệt hơn: đó là việc cải tổ Bộ Giáo Luật đã được chính Công Ðồng mong muốn và yêu cầu, bởi vì Công Ðồng đã dành mối quan tâm đặc biệt đến Giáo Hội.

Dĩ nhiên là khi tin tu chính Bộ Giáo Luật được loan báo lần đầu tiên, thì Công Ðồng còn là cái gì hoàn toàn thuộc về tương lai. Ngoài ra phải nói thêm là các công vụ giáo huấn của Công Ðồng, cách riêng đạo lý về Giáo Hội, chỉ được kiện toàn vào những năm 1962-1965; tuy vậy, không ai có thể chối rằng trực giác của Ðức Gioan XXIII rất là chính xác, và phải nói rằng quyết định của Ngài đã được nhắm trong viễn tượng công ích của Giáo Hội.

Bởi vậy, Bộ Giáo Luật mới, được ban hành hôm nay, đòi hỏi phải có công trình của Công Ðồng trước đã; và tuy nó đã được loan báo đồng thời với việc triệu tập Công Ðồng, nhưng xét theo thời gian, nó theo sau Công Ðồng, bởi vì các công tác chuẩn bị việc soạn thảo phải dựa trên Công Ðồng, và chỉ có thể khởi sự sau khi Công Ðồng đã kết thúc.

Nếu ngày hôm nay tâm trí chúng ta hướng về khởi điểm của cuộc hành trình, tức là ngày 25 tháng giêng năm 1959, và hướng về chính Ðức Gioan XXIII, vị khởi xướng việc tu chính bộ luật, chúng ta phải nhìn nhận rằng bộ luật này được bắt nguồn từ một ý định duy nhất, đó là việc chấn hưng đời sống Kitô Giáo. Thực vậy, chính từ ý định ấy mà Công Ðồng đã rút ra các quy chuẩn và hướng đi của hoạt động của mình.

Giờ đây, nếu chúng ta nhìn lại các công việc đã diễn tiến trước khi ban hành quyền giáo luật, cũng như cách thức làm việc, cách riêng dưới thời đại của hai Giáo Hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô I, rồi từ đó cho đến ngày hôm nay, thì cần phải nói rõ rằng các công việc đó đã được hoàn tất trong tinh thần tập đoàn một cách nổi bật; tinh thần ấy không những chỉ thể hiện ở việc soạn thảo bên ngoài, nhưng còn ảnh hưởng đến chính nội dung của các luật đã soạn nữa.

Tính cách tập đoàn, đánh dấu diễn tiến về nguồn gốc của Bộ Giáo Luật này, phù hợp hoàn toàn với giáo huấn và chiều hướng của Công Ðồng Vatican II. Bởi đó, Bộ Giáo Luật không những do nội dung mà ngay từ nguồn gốc, đã thể hiện tinh thần của Công Ðồng. Thực vậy, các văn kiện của Công Ðồng đã trình bày Giáo Hội, "bí tích phổ quát của sự cứu rỗi" (xem Hiến Chế "Ánh Sáng Muôn Dân", các số 1, 9, 48), như Dân của Chúa trong đó cơ cấu phẩm trật được dựa trên tập đoàn các Giám Mục hợp nhất với Thủ lãnh.

Chính vì lý do ấy mà các Giám Mục và các Hội Ðồng Giám Mục đã được mời gọi cộng tác vào việc chuẩn bị bộ luật mới, ngõ hầu suốt qua chặng đường dài này, với một phương pháp tập đoàn tùy theo tầm mức có thể, các văn thức pháp lý được dần dần chín mùi, để sau đó được xử dụng trong toàn thể Giáo Hội. Ðàng khác, trong suốt các giai đoạn của công việc soạn thảo, còn có sự tham dự của các chuyên viên, nghĩa là các nhà chuyên môn về thần học, lịch sử và nhất là về giáo luật, được tuyển chọn từ khắp các nơi trên thế giới.

Ngày hôm nay Chúng Tôi muốn bày tỏ lòng tri ân sâu xa đối với tất cả và từng người một.

Trước hết, Chúng Tôi nhắc nhớ đến các Hồng Y chủ tịch Ủy ban, nay đã quá cố: Hồng Y Pietro Ciriaci đã khởi sự công việc, và Hồng Y Pericles Felici, người đã điều khiển bước tiến trong nhiều năm, cho đến lúc hầu như đã kết thúc. Tiếp đến, Chúng Tôi nghĩ đến các Tổng thư ký của Ủy ban: Ðức Ông Giacomo Violardo, sau đó được thăng Hồng Y, và cha Raimondo Bidagor, thuộc Dòng Tên, cả hai người để chu toàn trách vụ. Cùng với họ, Chúng Tôi nhớ đến các Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục và tất cả các thành viên của Ủy Ban, cũng như các cố vấn của các nhóm khác nhau, đã dấn thân vào công tác cực kỳ khó khăn, trải qua bao năm trường, và trong thời gian đó, Thiên Chúa đã gọi về lãnh phần thưởng đời đời. Ðối với từng vị ấy, Chúng Tôi dâng lên Chúa lời cầu khẩn cho họ.

Chúng Tôi cũng muốn ghi nhớ những người còn sống, bắt đầu với vị đương kim quyền chủ tịch Ủy Ban, hiền huynh Rosalio Castillo Lara, đã làm việc cách xuất sắc trong thời gian lâu dài ở một công tác với trách nhiệm rất nặng nề; kế đó, là Ðức Ông Willy Onclin, người đã đóng góp phần lớn lao vào việc kết thúc công tác nhờ sự chuyên cần và nhiệt thành cá nhân; rồi đến tất cả các người khác trong Ủy ban đã đóng góp một phần quý giá vào việc soạn thảo và hoàn bị một công trình vừa lớn lao vừa phức tạp, với tư cách là Hồng Y thành viên, các hội viên, cố vấn và cộng tác viên trong các ban khảo cứu hay trong các chức vụ khác.

Vì thế, ngày hôm nay khi ban hành Bộ Giáo Luật, Chúng Tôi hoàn toàn ý thức rằng hành vi này phát xuất từ quyền hành Giáo Hoàng, và vì thế nó mang tính cách tối thượng quyền. Tuy nhiên, Chúng Tôi cũng ý thức rằng Bộ Giáo Luật này, xét trong nội dung của nó, phản ảnh mối ưu tư đối với Giáo Hội diễn tả một cách tập đoàn bởi các anh em của Chúng Tôi trong chức Giám Mục. Hơn thế nữa, có thể so sánh phần nào với Công Ðồng, Bộ Giáo Luật này phải được coi như kết quả của sự hợp tác tập đoàn, bởi vì nó phát sinh từ sự phối trí sức lực của bao nhiêu cá nhân và cơ quan chuyên môn trong toàn thể Giáo Hội.

Một câu hỏi nữa được đặt ra về bản chất của Bộ Giáo Luật. Ðể trả lời vấn đề ấy, cần phải để cho tâm trí đi ngược lên gia sản xa xưa của luật pháp được chứa đựng trong các sách của Cựu Ước và Tân Ước. Chính từ đó, tựa như nguồn mạch tiên khởi, mà phát xuất tất cả truyền thống luật định và pháp chế của Giáo Hội.

Thực vậy, Chúa Kitô không muốn phá hủy gia sản kỳ cựu của lề luật và các tiên tri đã được thành hình dần dần qua giòng lịch sử và kinh nghiệm của dân Chúa trong Cựu Ước. Ðúng ra, Ngài đã kiện toàn nó (xem Mt 5,17), để cho gia sản ấy trở thành, dưới một hình thức mới mẻ và cao thượng hơn, một phần của gia sản Tân Ước. Chính vì vậy, mà tuy dù khi thánh Phaolô giải thích mầu nhiệm Phục Sinh, Người đã dạy rằng sự công chính không được thủ đắc nhờ luật pháp song là nhờ Ðức Tin (xem Rom 3,28; Gal 2,16); nhưng không vì thế mà Người loại bỏ tính cách bó buộc của Mười Giới Răn (xem Rom 13,8-10; Gal 5,13-25 và 6,2), cũng chẳng phủ nhận sự quan trọng của kỷ luật trong Giáo Hội (xem 1Cor chương 5 và 6). Bởi đó, các tác phẩm của Tân Ước giúp chúng ta hiểu rõ hơn tầm quan trọng của kỷ luật và cho chúng ta am tường hơn mối liên hệ chặt chẽ giữa kỷ luật với tính cách cứu rỗi của sứ điệp Phúc Âm.

Hiểu như vậy, thì đã rõ là Bộ Giáo Luật này không hề nhắm thay thế đức tin, ân sủng, các đoàn sủng và nhất là đức ái trong đời sống của Giáo Hội hay của các tín hữu. Trái lại, Bộ Giáo Luật, qua việc thể hiện trật tự trong Giáo Hội, nhằm dành chỗ ưu tiên cho đức ái, ân sủng và các đoàn sủng, đồng thời giúp phát triển một cách có trật tự đời sống của cộng đoàn Giáo Hội và của từng cá nhân làm thành phần của cộng đồng ấy.

Xét vì là văn kiện lập pháp nền tảng của Giáo Hội, và vì dựa trên gia sản luật định và pháp chế của mạc khải và truyền thống, Bộ Giáo Luật này có giá trị như một dụng cụ nòng cốt trong việc bảo vệ trật tự chính đáng, cả trong đời sống cá nhân và cộng đồng lẫn trong hoạt động của Giáo Hội. Vì thế, ngoài các yếu tố căn bản của cơ cấu phẩm trật và hữu quan của Giáo Hội đã do Ðấng Sáng Lập thiết chế, dựa trên truyền thống tông đồ hay cố cựu, và ngoài các quy tắc tổng quát về việc hành sử ba phận vụ đã được trao phó cho Giáo Hội, Bộ Giáo Luật còn cần phải xác định vài mẫu mực và quy tắc hành động nữa.

Xét như một dụng cụ, Bộ Giáo Luật này hoàn toàn phù hợp với bản chất của Giáo Hội, cách riêng đã được trình bày do giáo huấn chính thức của Công Ðồng Vatican II xét trong toàn bộ và nhất là trong học thuyết về Giáo Hội. Thực vậy, phần nào Bộ Giáo Luật mới có thể được coi như một cố gắng phi thường để diễn dịch đạo lý của Công Ðồng về Giáo Hội ra ngôn từ pháp lý. Ðành rằng không tài nào có thể chuyển đạt hoàn toàn hình ảnh của Giáo Hội mà Công Ðồng đã mô tả ra ngôn ngữ giáo luật; tuy vậy, Bộ Luật này luôn phải quy chiếu về hình ảnh ấy như khuôn mẫu nguyên khởi; bộ luật, tự bản chất, phải diễn tả những hình nét ấy bao nhiêu có thể được.

Từ đó, chúng ta có thể rút ra vài tiêu chuẩn căn bản hướng dẫn toàn thể Bộ Luật mới, trong khuôn khổ của lãnh vực riêng của nó cũng như trong ngôn ngữ mà nó xử dụng. Có thể nói được rằng chính từ đó mà Bộ Luật mang tính cách bổ túc cho giáo huấn của Công Ðồng Vatican II, cách riêng trong hai Hiến chế Tín Lý và Mục vụ.

Bởi vậy, nền tảng căn bản của tính chất mới mẻ của Công Ðồng Vatican II, tuy vẫn liên tục với truyền thống lập pháp của Giáo hội, nhất là khi bàn về Giáo Hội học, cũng cấu tạo nên sự mới mẻ của Bộ Luật mới.

Trong các yếu tố diễn tả hình ảnh trung thực và chân chính của Giáo Hội, phải kể cách riêng đến đạo lý trình bày Giáo Hội như Dân Chúa (xem Hiến Chế "Ánh Sáng Muôn Dân" số 2) và quyền bính phẩm trật nhằm để phục vụ (số 3); đạo lý bày tỏ Giáo Hội như một mối thông hiệp, và do đó ấn định các mối liên hệ hỗ tương giữa Giáo Hội địa phương với Giáo Hội phổ quát, giữa tính cách tập đoàn với quyền tối thượng; đạo lý theo đó tất cả các phần tử của dân Chúa đều tham dự, mỗi người tùy theo mức độ riêng, vào ba chức phận tư tế, tiên tri, và vương giả của Ðức Kitô; gắn liền với đạo lý ấy là giáo lý về các nghĩa vụ và quyền lợi của tín hữu, đặc biệt là của giáo dân; sau cùng sự dấn thân vào phong trào hợp nhất Kitô giáo.

Vì thế, nếu Công Ðồng Vatican II đã rút ra từ kho tàng của Truyền Thống những điều cũ và những điều mới, và điều mới là chính những yếu tố vừa nói trên đây, thì hiển nhiên rằng Bộ Giáo Luật này phải du nhập tính cách trung thành trong sự mới mẻ, và sự mới mẻ trong sự trung thành, và phải thích nghi nội dung cá biệt và lối diễn tả chuyên môn hợp với mục tiêu ấy.

Bộ Giáo Luật này ra đời vào lúc mà các Giám Mục trong toàn Giáo Hội không những yêu cầu ban hành, nhưng còn khẩn khoản thúc bách điều ấy.

Trên thực tế, Bộ Giáo Luật rất cần thiết cho Giáo Hội. Xét vì được thiết lập như một đoàn thể xã hội hữu hình, Giáo Hội cần có những quy luật để làm cho cơ cấu phẩm trật và hữu quan được rõ rệt; để việc thi hành các chức phận mà Thiên Chúa đã trao phó, cách riêng chức phận quyền hành thánh và cử hành bí tích, được tổ chức có trật tự; để các mối tương quan giữa các tín hữu được điều chế theo công bình dựa trên bác ái, nhờ việc quy định và bảo đảm quyền lợi của mỗi người; sau hết, để các chương trình chung nhằm sống đời Kitô giáo cách hoàn hảo hơn được sự nâng đỡ, củng cố và cổ võ bởi Giáo Luật.

Sau cùng, các luật pháp của Giáo Hội, do tự bản tính của chúng, đòi hỏi phải được tuân hành. Vì lý do đó, trong suốt thời gian lâu dài soạn thảo Bộ Luật, người ta đã rất lưu tâm đến việc cân nhắc kỹ lưỡng cách phát biểu các quy luật, và để cho các quy luật ất có một nền tảng vững chắc về pháp lý, giáo luật và thần học.

Sau những nhận dịnh trên đây, chỉ còn hy vọng rằng Bộ Pháp chế mới sẽ trở nên một dụng cụ đắc lực, để Giáo Hội có thể nhờ đó tiến triển theo tinh thần của Công Ðồng Vatican II, và càng ngày càng trở nên thích hợp hơn để chu toàn sứ mệnh cứu rỗi của mình trong thế giới.

Với niềm hân hoan và tín thác, Chúng Tôi muốn bày tỏ những nhận định nói trên vào chính lúc ban hành toàn bộ chính yếu của Giáo Luật dành cho Giáo Hội Latinh.

Nguyện xin Chúa ban cho sự hoan lạc, bình an, công bằng và vâng phục được đi kèm theo Bộ Luật này, và điều gì được Ðầu truyền khiến thì sẽ được thân thể tuân hành.

Bởi đó, tin tưởng vào ơn Chúa giúp, và dựa vào quyền hành của các thánh Phêrô và Phaolô Tông Ðồ, với ý thức rõ ràng và đáp lại nguyện vọng của các Giám Mục khắp hoàn cầu đã cộng tác với Chúng Tôi trong tinh thần tập đoàn, do quyền bính tối cao của Chúng Tôi, và qua Tông Hiến này với hiệu lực cho hậu lai, Chúng Tôi ban hành Bộ Luật này như đã được chỉnh đốn và duyệt lại. Chúng Tôi truyền rằng từ nay về sau nó sẽ có giá trị luật pháp trong toàn Giáo Hội Latinh, và Chúng Tôi ủy thác cho các vị hữu trách nhiệm vụ coi sóc và canh chừng việc tuân hành. Tuy nhiên, để mọi người có thể tra cứu và lĩnh hội tường tận những quy định này trước khi chúng có hiệu lực, Chúng Tôi tuyên bố và quyết định rằng chúng chỉ bắt đầu bó buộc kể từ ngày đầu tiên của Mùa Vọng năm 1983, bất chấp mọi định lệ, hiến chế, đặc ân (cho dùng chúng đáng nhắc nhở hoặc cá biệt) và tục lệ trái ngược lại.

Do đó, Chúng Tôi kêu gọi tất cả các con cái yêu dấu hãy tuân giữ những mệnh lệnh đã ban bố, với tâm hồn chân thành và thiện chí, trong niềm hy vọng rằng kỷ luật nhiệt thành của Giáo Hội sẽ triển nở lại và từ đó, sự cứu rỗi các linh hồn cũng sẽ được phát triển hơn nữa, nhờ sự giúp đỡ của Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Giáo Hội.

Roma, từ điện Vatican, ngày 25 tháng giêng 1983, vào năm thứ năm của chức nhiệm Giáo Hoàng.
Gioan Phaolô II

(Nhóm Dịch Thuật Việt ngữ Bộ Giáo Luật)




 Last updated: November 20, 2017  
      © 2006-2018 Cộng Đoàn Thánh Martin de Porres - Olympia, Washington USA